image banner
  Nhiệt liệt chào mừng 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024)!                                     Đảng Cộng sản Việt Nam - Người lãnh đạo, tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam!                                                                                                 Mừng đất nước đổi mới, mừng Đảng quang vinh, mừng Xuân Giáp Thìn!
Thống kê truy cập
  • Đang online: 22
  • Hôm nay: 2,752
  • Trong tuần: 5,408
  • Tất cả: 3,330,308
Tham luận: Kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo tổ chức ôn thi tốt nghiệp THPT đối với bài thi tổ hợp KHXH
Lượt xem: 96
Kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo tổ chức ôn thi tốt nghiệp THPT đối với bài thi tổ hợp KHXH của trường THPT Võ Thị Hồng

BÁO CÁO THAM LUẬN

Nội dung: Kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo tổ chức ôn thi tốt nghiệp THPT đối với bài thi tổ hợp KHXH

 

 


Đơn vị: TRƯỜNG THPT VÕ THỊ HỒNG

1. Đội ngũ nhà giáo, lớp, học sinh

a) Về đội ngũ giáo viên: Số lượng: 44

- Tuổi nghề (cao nhất, thấp nhất): Cao nhất: 21 năm; Thấp nhất: 02 năm

- Trình độ (đạt chuẩn, trên chuẩn): Trên chuẩn: 03; Đạt chuẩn: 41

b) Về lớp, học sinh:

- Số lớp, số học sinh: Năm học 2023-2024 trường có 1059 học sinh biên chế 24 lớp. Trong đó: Khối 10: 09 lớp với 441 học sinh. + Khối 11: 09 lớp với 335 học sinh. + Khối 12: 06 lớp với 283 học sinh.

- Số học sinh đăng kí dự thi Tốt nghiệp THPT năm 2023 để xét tốt nghiệp và xét tuyển vào Đại học, Cao đẳng: 231 học sinh. Trong đó, 63 em đăng kí dự thi Tốt nghiệp THPT năm 2023 để xét tốt nghiệp và 168 em đăng kí dự thi Tốt nghiệp THPT năm 2023 để xét tốt nghiệp và xét tuyển vào Đại học, Cao đẳng.

2. Những giải pháp và kết quả đạt được

a) Giải pháp: (Chú trọng vào Nội dung Báo cáo tham luận)

Nhà trường luôn chú trọng đến việc đảm bảo chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 12, giúp các em đủ năng lực vượt qua kì thi tốt nghiệp THPT và đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng ngay từ khi các em là học sinh lớp 10 đầu cấp chứ không phải đến năm lớp 12 mới được được quan tâm. Sự quan tâm ấy được hiện thực hóa bằng các giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, Biên chế lớp theo năng lực và nguyện vọng. Trên cơ sở danh sách học sinh trúng tuyển vào trường, lãnh đạo nhà trường tiến hành xem xét, đánh giá, xếp lớp cho các em, sao cho thật phù hợp với năng lực và nguyện vọng của từng em. Những em có năng khiếu hay thiên về khối tự nhiên sẽ chọn vào lớp C1,3,4; thiên về xã hội chọn vào những lớp C2,4,6 và sẽ có điều chỉnh theo năng lực học sinh theo từng năm.

Trên cơ sở lớp được biên chế, giáo viên bộ môn rà soát phân loại đối tượng học sinh, thống kê cụ thể số lượng học sinh có học lực yếu, kém từng lớp, từng môn dựa trên kết quả của năm học trước. Đồng thời, căn cứ theo nguyện vọng, nhu cầu dự thi của học sinh để thực hiện phân tách nhóm ôn tập phù hợp. Điều này, sẽ giúp ích rất nhiều trong việc nâng cao chất lượng. Trên thực tế, học sinh cùng một khối nhưng năng lực và mục đích học tập không giống nhau. Việc cơ cấu lớp có sự tương đồng về năng lực sẽ giúp giáo viên lựa chọn phương pháp và mức độ kiến thức phù hợp, hạn chế sự nhàm chán của những học sinh có năng lực tốt khi giáo viên ít có thời gian quan tâm xử lí những câu hỏi, dạng bài nâng khổ điểm bài thi. Và, tâm lý chán nản đối với những học sinh trung bình yếu nếu giáo viên quá chú trọng mong muốn của những học sinh khá, giỏi. Bên cạnh đó, đối với những học sinh không có mong muốn lựa chọn môn học để xét Đại học, cao đẳng thì cũng không nên gây áp lực điểm số.

Thứ hai, Phân công chuyên môn hợp lý, khoa học. Nhà trường chỉ đạo các tổ chuyên môn lên kế hoạch hoạt động, phân công các thầy cô giáo đứng lớp giảng dạy sao cho thật phù hợp với đặc điểm của các nhóm đối tượng học sinh. Những giáo viên nhiều kinh nghiệm giảng dạy sẽ đảm nhiệm những lớp mũi nhọn tốp đầu và tốp cuối để đảm bảo lớp đầu được nâng cao chuyên sâu, lớp cuối vẫn đủ khả năng đảm bảo cơ bản. Hàng năm có sự luân phiên giữa các giáo viên với nhau để đảm bảo thầy cô có đầu tư chuyên môn hướng đến sự đồng đều về năng lực chuyên môn cho bộ môn. Tất cả các giáo viên đều giảng dạy ở cả ba khối để tự hình thành được năng lực kiến thức, hệ thống kiến thức để bổ sung giúp đỡ trao đổi với nhau khi cần cũng như thấy được tính hệ thống của kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục.

Thứ ba, Chỉ đạo chuyên môn thực hiện giảng dạy chính khóa chú trọng xác định kiến thức trọng tâm; Xây dựng Kế hoạch bài dạy phù hợp với đặc điểm học sinh; Chú trọng đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá. Chỉ đạo quyết liệt đến tổ, nhóm bộ môn dạy hết chương trình chính khóa, đảm bảo kiến thức cơ bản trọng tâm trên nguyên tắc dựa vào tài liệu chuẩn nhất là sách giáo khoa 12 cơ bản và các hướng dẫn thực hiện chương trình của Bộ GD&ĐT. Đối với chương trình 11, định hướng lựa chọn một số nội dung cốt lõi có đề cập đến trong đề thi Tốt nghiệp THPT trong các năm liền kề trước. Không nên tập trung ôn tập lại toàn bộ chương trình 11 vì chỉ chiếm 10% điểm số của bài thi. Ngoài ra, cũng cần tránh việc cung cấp quá nhiều tài nguồn tài liệu dễ dẫn đến phân tâm cho học sinh, đặc biệt đối với những học sinh có học lực trung bình, yếu. Tuyệt đối không cung cấp cho học sinh tài liệu chưa được kiểm định.

Bên cạnh đó, giáo viên bộ môn cần xây dựng kế hoạch bài dạy phù hợp với đặc điểm học sinh. Giáo án dành cho học sinh lớp Tự nhiên cần phải tinh gọn, cốt lõi, trọng tâm còn giáo án dành cho học sinh lớp Xã hội phải có phần mở rộng, liên hệ, thực hành và vận dụng. Ngoài ra, tổ bộ môn còn thường xuyên quán triệt và kiểm tra, rút kinh nghiệm tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh đến từng thầy cô giáo trong từng học kì, từng năm học (từ khi các em học lớp 10 cho đến lớp 12). Qua đó, kịp thời cập nhật tình hình và chất lượng học tập của các em một cách chính xác nhất. Lấy đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá học sinh là một kênh đánh giá giáo viên trong việc thực hiện chuyên môn. Từ việc thay đổi phương pháp dạy học kiểm tra đánh giá sẽ hướng tới học sinh chú ý và đạt được sự vận dụng tích cực trong học tập hướng tới xu thế ra đề của Bộ. Phân công các giáo viên bộ môn trong cùng tổ hợp phối hợp với nhau trong quá trình giảng dạy sao cho đạt kết quả cao.

Thứ tư, Xây dựng Kế hoạch ôn thi tốt nghiệp từ đầu năm học, số tiết hợp lý từng giai đoạn, có tăng tốc ở giai đoạn sau; Xây dựng phân phối chương trình ôn thi Tốt nghiệp theo từng giai đoạn, phù hợp đặc điểm lớp học. Xây dựng kế hoạch ôn thi Tốt nghiệp theo từng giai đoạn phù hợp, chú trọng phát huy hiệu quả. Ở học kì 1, Kế hoạch ôn thi Tốt nghiệp được xây dựng từ 2 đến 4 tiết/môn/tuần đảm bảo vừa hệ thống kiến thức cơ bản sau khi học chính khóa vừa hình thành kĩ năng luyện giải đề, thực hành kĩ năng làm bài. Ở học kì 2, chia thành 03 giai đoạn ôn thi Tốt nghiệp với số tiết khác nhau. Giai đoạn 1 thực hiện từ đầu học kì 2 đến khi học sinh thi cuối kì và số tiết giống với học kì 1. Giai đoạn 2 tăng lên 2 tiết/môn để đảm bảo hệ thống lại kiến thức đã học của cả năm. Giai đoạn 3 tăng tốc khoảng 3 tuần để tăng cường luyện giải đề. Mỗi đơn vị lớp, giáo viên bộ môn sẽ xây dựng phân phối chương trình riêng đảm bảo phù hợp với năng lực và nguyện vọng của học sinh ở lớp đó. Chỉ đạo tổ, nhóm chuyên môn và giáo viên dạy các môn thi tốt nghiệp THPT tham khảo bộ đề thi thử của Sở GDĐT, bám sát cấu trúc đề thi tham khảo của Bộ GDĐT xây dựng chi tiết nội dung ôn tập đáp ứng mục đích nâng cao chất lượng của kì thi.

Thứ năm, Phối hợp nhiều lực lượng trong quá trình ôn thi Tốt nghiệp cho học sinh 12: Lãnh đạo, Phụ huynh, GVBM, GVCN. Thi Tốt nghiệp THPT là một nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường trong năm học. Do đó, nhà trường luôn chú trọng phối hợp các lực lượng giáo dục có liên quan đến đối tượng học sinh 12. Nhà trường lập nhóm Zalo của Ban Giám hiệu – Học sinh 12; Ban Giám hiệu – GVCN 12; GVCN và phụ huynh 12 để kịp thời có thông tin, trao đổi, chia sẻ các Kế hoạch, thông tin chỉ đạo từ Bộ, Sở có liên quan đến học sinh 12. Phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên giảng dạy và giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh học sinh, bảo đảm chuyên cần của từng học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm cũng thường xuyên cập nhật kết quả học tập của học sinh phối hợp tốt với phụ huynh học sinh trong công tác quản lý thời gian tự học ở nhà. Có kế hoạch phối hợp với chủ nhà trọ quản lí giờ giấc sinh hoạt của học sinh trong thời gian ở trọ. Phân công giáo viên phụ trách các khu trọ có học sinh ở để kịp thời giúp đỡ, hỗ trợ các em.

Thứ sáu, Nhà trường đảm bảo tổ chức thi Thử Tốt nghiệp cho học sinh 12 mỗi năm ít nhất 03 lần trong đó trường tổ chức 01 lần và 01 lần do Sở tổ chức. Xây dựng Kế hoạch thi thử xác định rõ thời gian tổ chức từng lần. Sau khi các em học xong chương trình chính khóa thì nhà trường sẽ tiến hành tổ chức cho học sinh thi thử để các em làm quen với đề thi tốt nghiệp THPT. Để thi thử không quá áp lực đối với học sinh, nhà trường đặc biệt chú ý làm tốt công tác tư tưởng đối với học sinh, giúp học sinh nhận thức kỳ thi thử nhằm tiếp cận và trải nghiệm trước để vững vàng hơn, tự tin hơn khi tham gia kỳ thi chính thức. Cùng với đó, tổ chức thi thử được thực hiện với thời gian hợp lý, có đủ thời gian để học sinh chuẩn bị kiến thức chu đáo. Thời gian tổ chức thi phải linh hoạt, tránh tổ chức liên tục, cận ngày sẽ tạo áp lực cho việc ôn tập và chuẩn bị của học sinh. Đề thi thử phải bám sát đề minh hoạ của Bộ GD&ĐT để giúp học sinh làm quen được với dạng đề thi. Việc chấm, trả, sửa bài thi thử phải được thực hiện nghiêm túc, nhất là đối với việc sửa bài thi thử, giáo viên cần phải phân tích, rút kinh nghiệm để học sinh lưu ý trong quá trình ôn tập.

Sau thi thử, nhà trường họp rút kinh nghiệm với giáo viên các bộ môn để đánh giá kết quả. Họp Lãnh đạo với những học sinh có kết quả thấp, có nguy cơ hỏng hoặc điểm liệt để lắng nghe khó khăn của học sinh, đồng thời, động viên và có giải pháp kèm cặp, phụ đạo đối với những học sinh này. Cho học sinh đăng kí điểm thi Tốt nghiệp từ đầu học kì 2 ở từng môn, đối chiếu so sánh kết quả Giữa kì 2, Cuối kì 2 và các lần thi thử với điểm đăng kí để rút kinh nghiệm cho các em ở từng thời điểm.

Thứ bảy, Tổng kết, Khen thưởng, tuyên dương sau kì thi thử và chính thức. Sau khì thi thử và thi chính thức tổ nghiệp, nhà trường tuyên dương khen thưởng Học sinh có Kết quả thi thử cao và kết quả thi Tốt nghiệp chính thức cao. Đồng thời, khen thưởng giáo viên có kết quả giảng dạy các môn thi Tốt nghiệp có tỉ lệ bằng hoặc vượt mặt bằng chung của Tỉnh. Đối với kì thi chính thức, nhà trường rà soát, thống kê và so sánh điểm thi tốt nghiệp THPT của trường (Điểm thi trung bình theo từng môn và toàn trường) với điểm thi của tỉnh và của cả nước. Trên cơ sở đó có đánh giá rút kinh nghiệm nội dung ôn tập và công tác tổ chức ôn tập thi tốt nghiệp THPT những năm qua để xây dựng kế hoạch, nội dung ôn tập thi tốt nghiệp THPT năm 2024 phù hợp với điều kiện đơn vị.

b) Kết quả đạt được:

TT

Môn

ĐTB của trường

So sánh của tỉnh

So sánh cả nước

2022

2023

2022

2023

2022

2023

1

Lịch sử

6,48

6,49

6,27

6,09

6,34

6,03

2

Địa lý

7,11

6,62

6,67

6,27

6,68

6,15

3

GDCD

8,09

8,78

8,14

8,48

8,03

8,29

ĐTB thi TN

6,203

6,180

 

 

 

 

c) Đánh giá chung: (Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế)

- Ưu điểm: kết quả điểm thi Tốt nghiệp THPT các năm ở các bài thi của tổ hợp KHXH đều cao hơn mặt bằng chung của Tỉnh, cả nước. Không có bài thi bị điểm liệt. Có số bài đạt điểm giỏi nhất định.

- Hạn chế: Số lượng học sinh đạt điểm giỏi chưa nhiều. Những bộ môn khác vẫn còn điểm thi thấp hơn mặt bằng chung của Tỉnh và Cả nước.

- Nguyên nhân hạn chế:

+ Sỉ số lớp đông, khả năng bao quát, quan tâm để nâng khổ điểm cao cho học sinh giỏi, khó đảm bảo điểm trung bình đối với học sinh yếu.

+ Do học nhiều môn, thời gian học trên lớp của học sinh nhiều, khả năng tự học và học ở nhà của học sinh rất ít.

+ Phần lớn học sinh chọn các môn KHXH có học lực trung bình yếu.

+ Vài năm trở lại đây, nguyện vọng học đại học, cao đẳng của học sinh ở các trường nổi tiếng không nhiều. Cơ hội việc làm qua việc xuất khẩu lao động và du học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thi của học sinh.

3. Giải pháp thực hiện để nâng cao chất lượng điểm trung bình thi THPT năm 2024 và những năm tiếp theo

          Bám sát các văn bản chỉ đạo từ Bộ GD&ĐT, chỉ đạo chuyên môn từ Sở GD&ĐT về việc thi Tốt nghiệp cho học sinh năm 2024 và những năm tiếp theo. Học tập, trau đổi kinh nghiệm với các đơn vị trường phổ thông khác trên địa bàn để tìm những giải pháp tối ưu và mang lại hiệu quả nhất.

Tiếp tục thực hiện những giải pháp mang lại hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng điểm trung bình thi THPT những năm vừa qua. Bên cạnh đó, công tác ôn thi Tốt nghiệp đòi hỏi đội ngũ giáo viên không những có năng lực mà còn phải tâm huyết, không ngại đổi mới, luôn biết học hỏi, sẵn sàng chia sẻ và yêu thương giúp đỡ học sinh. Đây là một trong những yếu tố quyết định cho chất lượng ôn thi đạt kết quả cao. Do đó, đội ngũ giáo viên phải không ngừng học tập, trau dồi năng lực chuyên môn để đáp ứng yêu cầu giáo dục.

          Xây dựng Kế hoạch tổ chức ôn tập, dạy thêm cho học sinh lớp 10, 11 theo Công văn 4102 của Sở về việc triển khai và tổ chức thực hiện Phương án Thi tốt nghiệp từ năm 2025 từ học kì 2 năm học 2023-2024 để có bước chuẩn bị cho thầy cô, học sinh và phụ huynh theo định hướng thi Tốt nghiệp theo hướng mới.

          Tổ chức cho học sinh lớp 10, 11 năm học 2023-2024 thi thử bám sát theo Định hướng đề tham khảo của Bộ 01 lần/HKII của năm học để đánh giá, rút kinh nghiệm cho công tác ôn tập từ năm học sau./.

                                                                                                                              (Trường THPT Võ Thị Hồng)

 

Tác giả: Lê Hoàng Dự
Họ tên no image
no image
Tiêu đề no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image