Công chức, viên chức và người lao động ngành Giáo dục và Đào tạo tăng cường khai báo y tế điện tử trên các phần mềm: http://tokhaiyte.vn, NCOVI, Bluezone để phòng, chống dịch Covid-19 
TIN TỨC MỚI NHẤT
Thống kê truy cập
  • Đang online: 5
  • Hôm nay: 96
  • Trong tuần: 2 565
  • Tất cả: 246884
Đăng nhập
Kỳ 3:Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Chất lượng giáo dục của các trường PTDTNT trong tỉnh Cà Mau được nâng cao sẽ góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra; nâng cao trình độ dân trí của người dân tộc thiểu số, cải thiện môi trường sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; tạo điều kiện cho con em người dân tộc thiểu số được đào tạo đa ngành ở bậc đại học đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đây sẽ là một trong những điều kiện then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Chương 3.  XÂY DỰNG VÀ VÀ ĐỀ XUẤT LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG PTDTNT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp

3.1.1. Đảm bảo tính mục tiêu

Đảm bảo tính mục đích, mục tiêu của hoạt động giáo dục là nguyên tắc yêu cầu hoạt động giáo dục bắt buộc phải có mục đích và phải được định hướng theo mục đích ấy trong suốt quá trình hoạt động giáo dục diễn ra. Mục đích luôn là một yếu tố quan trọng đối với tất cả các hoạt động, đặc biệt là đối với hoạt động giáo dục. Nó bảo đảm cho cả quá trình hoạt động đi đúng hướng.

Nâng cao hiệu quả giáo dục của hệ thống trường PTDTNT thực chất là đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường. Do vậy, các giải pháp đề xuất trước hết phải hướng tới mục tiêu đào tạo, thực hiện được mục tiêu đào tạo và “sản phẩm” đào tạo của trường PTDTNT phải đáp ứng được nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương.

Các giải pháp mà đề tài đề ra chính là những cách thức, phương hướng để giải quyết các vấn đề còn hạn chế, khuyết điểm hay chưa phát huy tốt hiệu quả các trường PTDTNT còn gặp phải, với mong muốn cải thiện, giảm thiểu những hạn chế khuyết điểm đó, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong bối cảnh hiện nay.

Muốn giải quyết triệt để các vấn đề còn hạn chế, khuyết điểm, phát huy tốt hơn những ưu điểm, thế mạnh đang có thì các giải pháp đưa ra phi dựa trên một số nguyên tắc nhất định làm nền tảng. Trong đó các giải pháp mà đề tài đưa ra phải đảm bảo hướng vào thực hiện những mục đích, mục tiêu cụ thể mà đề tài hướng đến, đây là nguyên tắc cơ bản đầu tiên cần phải thực hiện. Bởi nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu sẽ giúp định hướng cho giải pháp theo chiều hướng mà tác giả đã xác định ngay từ ban đu, tránh lạc hướng vào giải quyết các vn đ không quan trọng.

3.1.2. Đảm bảo tính hệ thống

Giáo dục là một quá trình diễn ra lâu dài, chất lượng hiệu quả của quá trình giáo dục nói chung, ở trường PTDTNT nói riêng có liên quan, phục thuộc vào nhiều yếu tố. Do đó, việc giải quyết những khó khăn, hạn chế trong thực trạng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục ở trường PTDTNT hiện nay cũng là vấn đề không thể đạt được trong một sớm, một chiều.

Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông trong bối cảnh hiện nay gặp nhiều khó khăn, cần phải có nhiều giải pháp. Các giải pháp có quan hệ mật thiết, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau, vì vậy việc đề xuất và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải tiến hành một cách lâu dài, các giải pháp mà đề tài đề xuất phải có hệ thống. Mỗi giải pháp đưa ra sẽ có những ưu điểm, thế mạnh và những hạn chế riêng. Việc đề xuất những giải pháp mang tính đồng bộ, hệ thống, để có thể áp dụng thực hiện hường xuyên, liên tục sẽ góp phần hỗ trợ thức đẩy lẫn nhau.

3.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn

Nâng cao chất lượng giáo dục đang là yêu cầu cấp thiết trước những yêu cầu đòi hỏi bởi xu thế toàn cầu hóa và yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện ở Việt Nam hiện nay. Giáo dục phổ thông trong bối cảnh tình hình phát triển giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam như vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình phát triển của quá trình dạy học trong nhà trường phổ thông nói chung, các trường PTDTNT ở Cà Mau nói riêng.

Vì vậy, những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phải căn cứ trên những điều kiện thực tế về kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ ở địa phương Cà Mau. Các giải pháp đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế về chất lượng điều kiện cơ sở vật chất, quy mô trường lớp, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trong các trường PTDTNT. Đối với các giải pháp của đề tài phải được xây dựng và xuất phát trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng giáo dục, từ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy học và giáo dục của trường PTDTNT trong thời gian qua cũng như những định hướng và yêu cầu phát triển, đổi mới giáo dục trong thời gian tới.

3.1.4. Đảm bảo tính khả thi

Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi đỏi hỏi các giải pháp đưa ra phải đảm bảo thực hiện được và đem lại những thay đổi nhất định về hiệu quả giáo dục và đào tạo của trường PTDTNT.

Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục bên cạnh phải phù hợp với tình hình thực tiễn, thì yếu tố rất quan trọng cần phải đảm bảo là tính khả thi của các giải pháp. Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phải phù hợp với đặc điểm tình hình học sinh, thực tiễn công tác của cán bộ quản lý, công tác dạy học và giáo dục của người giáo viên, đảm bảo để họ có thể thực hiện áp dụng được và áp dụng có hiệu quả những biện pháp đã xây dựng.

Tính khả thi của giải pháp còn là khả năng áp dụng được và phát huy hiệu quả khi áp dụng vào tình hình thực tiễn xã hội của địa phương Cà Mau, khả thi khi áp dụng được và phát huy hiệu quả tại các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

3.2.1. Nâng cao hiệu quả công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục ở trường PTDTNT

3.2.1.1. Mục đích của giải pháp

Có thể nói, công tác kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường chuẩn quốc gia luôn được xác định là một khâu then chốt để nâng cao chất lượng của mỗi nhà trường, mở rộng ra là chất lượng của toàn ngành giáo dục, củng như xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Thời gian qua, công tác tự đánh giá theo quy định tại Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, đã được các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Cà Mau, quan tâm và thực hiện, tuy nhiên vẫn còn lúng túng, nhiều hạn chế, bất cập.

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục ở trường PTDTNT trong giai đoạn hiện nay, hướng đến những mục đích sau:

- Giúp các cơ sở giáo dục phổ thông xác định việc đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn; giúp lập kế hoạch cải tiến chất lượng, duy trì và nâng cao các hoạt động của nhà trường; thông báo công khai với các cơ sở quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của nhà trường; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá, công nhận hoặc không công nhận cơ sở giáo dục phổ thông đạt kiểm định chất lượng giáo dục.

- Làm tốt công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục trường phổ thông, giúp khuyến khích đầu tư và huy động các nguồn lực cho giáo dục, góp phần tạo điều kiện đảm bảo cho nhà trường không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá, công nhận hoặc không công nhận cơ sở giáo dục phổ thông đạt chuẩn quốc gia.

- Đẩy mạnh và phát huy hiệu quả công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục trường phổ thông, giúp nâng cao nhận thức về công tác kiểm định chất lượng giáo dục cho cán bộ, GV, nhân viên trong nhà trường.

3.2.1.2. Nội dung của giải pháp

- Tăng cường nhận thức cho cán bộ, GV, nhân viên về công tác tự đánh giá và xây dựng, triển khai kịp thời kế hoạch tự đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường.

- Phân công nhiệm vụ cụ thể rõ ràng, phù hợp với năng lực của từng cá nhân, bộ phận, thực hiện công tác tự đánh giá và chỉ đạo, kiểm tra thực hiện tốt công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục. 

- Thực hiện tốt công tác thu thập, xử lý và phân tích các thông tin, minh chứng dùng làm căn cứ, minh hoạ cho các nhận định trong báo cáo tự đánh giá.

- Tăng cường các điều kiện hỗ trợ cho công tác tự đánh giá. 

3.2.1.3. Tổ chức thực hiện

 Như đã đề cập, công tác tự đánh giá đã được các trường PTDTNT quan tâm và thực hiện tương đối tốt quy định về quy trình tự đánh giá của trường trung học, theo quy định. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện công tác này của các trường vẫn còn lúng túng, nhiều hạn chế, bất cập. Những hạn chế, bất cập này dẫn đến hiệu quả của công tác tự đánh giá chưa cao, chưa thật sự đạt được mục tiêu kiểm định chất lượng giáo dục và chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo của nhà trường. Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục ở trường PTDTNT, trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích, chúng tôi đề xuất một số biện pháp, cách thức thực hiện giải pháp này như sau:

Thứ nhất. Đối với nội dung nâng cao nhận thức cho cán bộ, GV, nhân viên về công tác tự đánh giá và kịp thời xây dựng, triển khai kịp thời kế hoạch tự đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường. 

Việc theo dõi, kiểm tra đánh giá trình độ nhận thức của cán bộ quản lý và GV thuộc các tổ phụ trách công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục, cũng như làm tốt công tác tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, GV, nhân viên nhà trường về các vấn đề của KĐCL trong giai đoạn hiện nay sẽ tạo sự thống nhất, đồng thuận trong đội ngũ khi triển khai. Làm tốt công tác này, Hiệu trưởng các trường PTDTNT sẽ nắm tổng thể các hoạt động trong việc triển khai quy trình tự đánh giá và có sự phân công hợp lý, phát huy hết sức mạnh của các thành viên trong Hội đồng tự đánh giá. Trong quá trình thực hiện, cần lưu ý:

- Tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền đến toàn thể hội đồng sư phạm nhà trường, phụ huynh và HS. Tổ chức các lớp tập huấn, các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về KĐCL, tổ chức hội nghị, hội thảo. Tạo điều kiện cho cán bộ, GV giao lưu học hỏi công tác tự đánh giá của các trường khác. Lãnh đạo các trường cần chỉ đạo tổng hợp những thông tin dạng chuyên đề về KĐCL, công khai các nội dung, tiến độ và kết quả tự đánh giá của nhà trường trên Website, bảng tin, Zalo... 

- Tiến hành phân tích rõ điểm mạnh, điểm yếu cũng như những cơ hội và thách thức (Mô hình SWOT), để có được các luận cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch. Qua đó xác lập các mục tiêu tổng quát để có thể phân công nhiệm vụ sát với thực tế và đảm bảo hiệu quả cao khi thực hiện. Tổ chức cho Hội đồng tự đánh giá thảo luận, góp ý đối với kế hoạch đã xây dựng. Thông báo công khai kế hoạch tự đánh giá. Chuẩn bị các điều kiện, về nguồn lực vật lực... lưu trữ, quản lý dữ liệu nhằm hỗ trợ tốt nhất cho hoạt động tự đánh giá.

Thứ hai: Đối với nội dung công tác phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, phù hợp với năng lực của từng cá nhân, bộ phận, thực hiện công tác tự đánh giá và chỉ đạo, kiểm tra thực hiện tốt công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục.

Các trường PTDTNT cần thực hiện tốt những vấn đề sau:

- Lãnh đạo các trường PTDTNT mà cụ thể là các Hiệu trưởng phải có sự phân công, phân nhiệm cụ thể rõ ràng, phù hợp với năng lực của từng cá nhân, bộ phận, đảm bảo ràng buộc trách nhiệm, không chồng chéo khi thực hiện hoạt động tự đánh giá. Lựa chọn những cán bộ, GV có kinh nghiệm, năng lực phân tích, đánh giá các hoạt động của nhà trường. 

- Tuyển chọn đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tự đánh giá có phẩm chất và năng lực phù hợp yêu cầu từng công việc. Từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các thành viên. Tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên có thời gian đầu tư cho lĩnh vực tự đánh giá, nội dung được phụ trách. 

- Để chỉ đạo thực hiện tốt công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục, các trường cần ban hành các quyết định quản lý đến toàn bộ quá trình tự đánh giá, huy động các lực lượng tham gia và điều hành công tác tự đánh giá theo trật tự, kỷ cương đảm bảo công tác tự đánh giá diễn ra theo đúng kế hoạch đã xây dựng. Giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện công tác tự đánh giá. 

- Phải luôn theo dõi và giám sát công tác này để chỉ đạo, ra quyết định một cách kịp thời, khoa học, đảm bảo tính hợp lý, khả thi nhằm thực hiện tốt kế hoạch đã lập ra. Việc chỉ đạo phải được thường xuyên, liên tục và nhất quán, phải phối hợp được các cá nhân, bộ phận; Cần tổ chức các cuộc họp đánh giá về việc thực hiện công việc để rút kinh nghiệm, điều chỉnh hoạt động. 

- Phải xây dựng kế hoạch kiểm tra và thông báo rộng rãi, công khai đến từng thành viên trong nhà trường. Hướng dẫn, yêu cầu từng cá nhân, bộ phận tự kiểm tra việc thực hiện công việc của bản thân, bộ phận. Kết hợp nhiều hình thức kiểm tra, sau đó tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá để có những điều chỉnh, bổ sung, khắc phục kịp thời.

Thứ ba: Thực hiện tốt công tác thu thập, xử lý và phân tích các thông tin, minh chứng dùng làm căn cứ, minh hoạ cho các nhận định trong báo cáo tự đánh giá.

Minh chứng được hiểu là những văn bản, hồ sơ, sổ sách, băng, đĩa hình, hiện vật đã và đang có của nhà trường phù hợp với nội hàm của chỉ báo, tiêu chí. Minh chứng được sử dụng để chứng minh cho các nhận định, kết luận trong mục “Mô tả hiện trạng” từng tiêu chí của báo cáo tự đánh giá. Minh chứng được thu thập từ hồ sơ lưu trữ của nhà trường, các cơ quan có liên quan; kết quả khảo sát, điều tra, phỏng vấn, quan sát các hoạt động của nhà trường. Minh chứng phải có nguồn gốc rõ ràng và đảm bảo tính chính xác. Minh chứng thu được không chỉ sử dụng cho mục đích đánh giá các mức đạt của từng chỉ báo, tiêu chí, mà còn nhằm mô tả hiện trạng các hoạt động của nhà trường để người đọc hiểu hơn, qua đó làm tăng tính thuyết phục của báo cáo tự đánh giá.

Để thực hiện tốt công tác thu thập, xử lý và phân tích các thông tin, minh chứng cần lưu ý:

- Xác định nội hàm, phân tích tiêu chí tìm minh chứng.

Để xác định đúng, đủ nội hàm (yêu cầu) của từng chỉ báo, tiêu chí cần lưu ý:

(1) Chỉ báo, tiêu chí thường có những từ, cụm từ quan trọng có ý nghĩa như là “từ khóa”;

(2) Mỗi chỉ báo, tiêu chí có một hoặc nhiều nội hàm;

(3) Cần xác định nội hàm của từng chỉ báo, tiêu chí theo các quy định nào của một chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục và thời hạn công nhận đạt chuẩn quốc gia;

(4) Đối chiếu “Mục tiêu cụ thể” của nhà trường liên quan nội hàm chỉ báo, tiêu chí.

Trên cơ sở đã xác định đúng, đủ nội hàm chỉ báo, tiêu chí, nhóm công tác hoặc cá nhân sẽ phân tích tiêu chí để tìm những minh chứng cần thu thập, nơi thu thập và ghi vào Phiếu xác định nội hàm, phân tích tiêu chí tìm minh chứng tiêu chí.

Để đánh giá thực trạng từng nội hàm của chỉ báo, tiêu chí, nhà trường có thể tự đặt ra và trả lời (ứng với nội hàm) các câu hỏi như: Nhà trường có hay không lập kế hoạch thực hiện yêu cầu? Nhà trường đã thực hiện, đã đạt được yêu cầu chưa? Yêu cầu đã đạt được của nhà trường so với yêu cầu theo quy định chung như thế nào? So với các trường khác cùng có điều kiện tương đồng (kinh tế - xã hội, văn hóa,…) như thế nào? Nhà trường đã thực hiện “vượt trên” yêu cầu như thế nào? Nhà trường rà soát, kiểm tra việc thực hiện yêu cầu như thế nào? Những bằng chứng để khẳng định nhà trường kế hoạch, thực hiện yêu cầu, rà soát, kiểm tra việc thực hiện yêu cầu,...

Trả lời những câu hỏi trên, nhà trường đã phân tích được tiêu chí, định hướng được việc thu thập minh chứng và chuẩn bị cho các bước tiếp theo của quy trình tự đánh giá.

- Thu thập minh chứng.

Căn cứ vào các Phiếu xác định nội hàm, phân tích tiêu chí tìm minh chứng tiêu chí, nhóm công tác hoặc cá nhân được phân công tiến hành thu thập minh chứng, sắp xếp minh chứng theo thứ tự nội hàm chỉ báo, tiêu chí của tiêu chuẩn đánh giá cơ sở giáo dục phổ thông.

Trong trường hợp không tìm được minh chứng cho chỉ báo, tiêu chí nào đó (hỏa hoạn, thiên tai hoặc những năm trước không lưu hồ sơ,...), Hội đồng tự đánh giá nêu rõ nguyên nhân trong Phiếu đánh giá tiêu chí.

- Xử lý và phân tích các minh chứng.

Hội đồng tự đánh giá thảo luận các minh chứng cho từng tiêu chí đã thu thập được của nhóm công tác hoặc cá nhân. Khi các minh chứng được sử dụng, Hội đồng tự đánh giá lập Bảng danh mục mã minh chứng.

Trong thực tế, có những minh chứng có thể được sử dụng ngay để làm minh chứng, nhưng có minh chứng phải qua xử lý, phân tích, tổng hợp mới có thể sử dụng để làm minh chứng cho các nhận định, kết luận trong mục “Mô tả hiện trạng”. Ví dụ, hầu hết minh chứng thu được sau các kết quả khảo sát, điều tra, phỏng vấn và quan sát các hoạt động của cơ sở giáo dục phổ thông phải xử lý thành dạng số liệu tổng hợp mới có thể đưa vào làm minh chứng trong mục “Mô tả hiện trạng”.

Các minh chứng phù hợp với nội hàm chỉ báo, tiêu chí sẽ được sử dụng trong mục “Mô tả hiện trạng của Phiếu đánh giá tiêu chí. Các minh chứng này, trước khi được sử dụng cần thiết phải mã hóa với mục đích gọn, tiện tra cứu. Mã minh chứng có thể được ký hiệu bằng chuỗi gồm 1 chữ cái (H), hai dấu gạch (-) và các chữ số được quy ước: [Hn-a.b-c]. Trong đó, H là hộp (cặp) đựng minh chứng; n là số thứ tự của hộp (cặp) đựng minh chứng được đánh số từ 1 đến hết (n có thể có 2 chữ số); a.b là ký hiệu của tiêu chí trong tiêu chuẩn (Ví dụ: [H1-1.1-01] được hiểu là minh chứng thứ nhất của tiêu chí 1.1 thuộc tiêu chuẩn 1, được đặt ở hộp 1).

Đối với những minh chứng sử dụng ở Mức 4, đã được mã hóa và sử dụng ở các tiêu chí thuộc Mức 1, Mức 2 hoặc Mức 3 thì chỉ cần trích dẫn mã minh chứng (giữ nguyên cách mã hóa minh chứng đã sử dụng).

Trong trường hợp, nhà trường không để riêng các minh chứng trong các hộp (cặp) mà vẫn để trong hồ sơ lưu trữ của nhà trường, thì mã minh chứng sẽ được ký hiệu là [a.b-c]. Trường hợp này, phải ghi rõ vị trí cụ thể (đường dẫn) của minh chứng đặt trong hồ sơ lưu trữ của nhà trường vào Bảng danh mục mã minh chứng.

- Sử dụng minh chứng.

Mỗi minh chứng chỉ được mã hóa một lần. Minh chứng được dùng cho nhiều tiêu chí trong một tiêu chuẩn hoặc nhiều tiêu chuẩn thì mang mã minh chứng của tiêu chí, tiêu chuẩn được sử dụng lần thứ nhất.

Mỗi nhận định, kết luận trong mục “Mô tả hiện trạng” của Phiếu đánh giá tiêu chí (sau đó được sử dụng trong báo cáo tự đánh giá) phải có minh chứng kèm theo. Cần lựa chọn một, hoặc vài minh chứng phù hợp với nội hàm của chỉ báo, tiêu chí và ghi ký hiệu đã được mã hóa vào sau mỗi nhận định, kết luận. Trường hợp một nhận định, kết luận trong mục “Mô tả hiện trạng” có từ 2 minh chứng trở lên, thì mã minh chứng được đặt liền nhau, cách nhau dấu chấm phẩy (;). Ví dụ: Một nhận định, kết luận của Tiêu chí 2.1 thuộc Tiêu chuẩn 2 có 3 minh chứng thứ nhất, thứ hai và thứ ba (đặt ở hộp số 3) được sử dụng thì sau nhận định, kết luận đó, các minh chứng được viết là: [H3-2.1-01]; [H3-2.1-02]; [H3-2.1-03].

Mỗi minh chứng chỉ cần một bản (kể cả những minh chứng được dùng cho nhiều chỉ báo, tiêu chí và tiêu chuẩn), không nhân thêm bản để tránh lãng phí.

- Lưu trữ và bảo quản.

Có thể tập hợp, sắp xếp minh chứng trong các hộp (cặp) theo thứ tự mã hóa. Minh chứng hết giá trị được thay thế bằng minh chứng đang còn hiệu lực và phù hợp. Minh chứng thay thế được ghi ký hiệu của minh chứng bị thay thế và ghi rõ ngày, tháng, năm thay thế. Lưu ý, những minh chứng phục vụ công tác quản lý các hoạt động nhà trường thì lưu trữ, bảo quản tại hồ sơ lưu trữ của nhà trường, nhưng phải ghi rõ vị trí cụ thể (đường dẫn) của minh chứng trong Bảng danh mục mã minh chứng để tiện lợi trong việc tra cứu, tìm kiếm.

Đối với những minh chứng phức tạp, cồng kềnh (các hiện vật; hệ thống hồ sơ, sổ sách; các văn bản, tài liệu, tư liệu có số lượng lớn và số trang nhiều,…), nhà trường có thể lập các biểu, bảng tổng hợp, thống kê các dữ liệu, số liệu để thuận tiện cho việc sử dụng. Nếu có điều kiện thì chụp ảnh (kỹ thuật số) minh chứng, lưu trong đĩa CD, USB hoặc lưu trong máy tính.

Minh chứng được lưu trữ, bảo quản theo quy định của Luật lưu trữ và các quy định hiện hành.

Thứ tư: Tăng cường các điều kiện hỗ trợ cho công tác tự đánh giá.

Các điều kiện hỗ trợ cho công tác tự đánh giá như đảm bảo cơ sở vật chất, điều kiện tài chính, sự hỗ trợ của cộng đồng đối với công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục củahà trường, có ý nghĩa quan trọng. Nó đảm bảo cho kế hoạch tự đánh giá của nhà trường được thực hiện đúng tiến độ, phát huy tối đa hiệu quả làm việc của các nhóm chuyên trách. 

Để làm tốt công tác này các trường cần quan tâm:

- Đảm bảo nơi làm việc thường xuyên của tổ thư ký và lưu trữ thông tin minh chứng. 

- Trang bị tối thiểu các trang thiết bị: máy vi tính, máy in, tủ đựng hồ sơ minh chứng… 

- Cung cấp đầy đủ văn bản hướng dẫn về lĩnh vực tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục cho Hội đồng tự đánh giá. Xây dựng chế độ bồi dưỡng hợp lý nhằm động viên tinh thần làm việc của các thành viên Hội đông tự đánh giá. Tranh thủ sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài nhà trường để có thêm nguồn chi cho công tác tự đánh giá.

3.2.2. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý trường PTDTNT

3.2.2.1. Mục đích của giải pháp

Công tác quản lý và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trường PTDTNT, là một khâu có ý nghĩa then chốt, là yếu tố rất quan trọng nhằm đảm bảo sự thành công cho cả tiến trình đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của mỗi nhà trường, mỗi cơ sở giáo dục.

3.2.2.2. Nội dung của giải pháp

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trường trung học nói chung, trường PTDTNT, cần quan tâm thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

- Đổi mới cơ bản về tư duy và phương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong bối cảnh thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

- Phát huy vai trò của Đảng bộ, chính quyền địa phương trong định hướng, điều hành, phối hợp với nhà trường trong các hoạt động giáo dục.

- Tăng cường ứng dụng, xây dựng hệ thống thông tin quản lý về giáo dục.

- Phát huy hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ trường học, cũng như việc chấp hành chính sách, pháp luật về giáo dục, đào tạo của cán bộ và GV trong đơn vị.

3.2.2.3. Tổ chức thực hiện

- Lãnh đạo trường PTDTNT cần tiếp tục đổi mới cơ bản về tư duy và phương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong bối cảnh Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đang áp dụng. 

Khi áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ thể hiện rõ hơn vai trò của hiệu trưởng, đó là tập trung vào lãnh đạo để phát triển nhà trường, quan tâm đến tầm nhìn sứ mệnh, tạo giá trị, xây dựng và thực hiện các chương trình hành động phát triển nhà trường, phải tự chủ và chịu trách nhiệm giải trình về các vấn đề cơ bản. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện tại tính tự chủ của các trường phổ thông công lập nói chung các trường PTDTNT nói riêng hiện nay là rất thấp. Bởi vì trong mô hình công lập truyền thống thiên về hành chính, luôn chấp hành, thực hiện triển khai các hướng dẫn, chỉ thị theo phân cấp quản lý giáo dục.

Do đó, các trường PTDTNT cần nhanh chóng tiếp cận và áp dụng mô hình tự chủ theo hướng nhà trường chủ động để ra những định hướng phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể. Trong đó, các hiệu trưởng phải là người cán bộ quản lý năng động, sáng tạo hơn, nhằm cải thiện không ngừng mối quan hệ với HS và phụ huynh, cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, chất lượng GV… Mục đích cuối cùng là đảm bảo công bằng, hiệu quả và chất lượng giáo dục phổ thông. 

- Phát huy hơn nữa vai trò của Đảng bộ, chính quyền địa phương trong định hướng, điều hành, phối hợp với nhà trường trong các hoạt động giáo dục. Mạnh dạn giao quyền tự chủ trong xây dựng và quản lý chương trình giáo dục, kể cả việc tự chủ về tài chính (nếu có), cho các tổ, khối và GV. Cùng với đó là tăng cường kiểm soát chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục.

- Tăng cường ứng dụng, xây dựng hệ thống thông tin quản lý về giáo dục. Phối hợp với các đơn vị cung cấp phần mềm, chuyển giao công nghệ thiết kế các module, các phần mềm cần thiết phục vụ công tác quản lý thông tin, hỗ trợ công tác quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu về dữ liệu và thông tin cho công tác chỉ đạo quản lý. Thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, GV về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, giảng dạy.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ trường học, cũng như việc chấp hành chính sách, pháp luật về giáo dục, đào tạo của cán bộ và GV trong đơn vị. Kịp thời phát hiện những mặt hạn chế trong công tác quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục, để có hướng khắc phục hiệu quả. Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được tiến hành theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Khi thanh tra, kiểm tra phải bảo đảm đánh giá được toàn diện công tác quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục của các trường. Việc thanh tra, kiểm tra, đánh giá phải được triển khai một cách công khai, độc lập, tránh hình thức. Xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ quản lý, GV có biểu hiện vi phạm các quy định về hoạt động chuyên môn, về pháp luật.

3.2.3. Bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

3.2.3.1. Mục đích của giải pháp

Công tác bồi dưỡng về tư tưởng, nhận thức và chuyên môn nghiệp vụ đối với đội ngũ được nhà trường ưu tiên hàng đầu trong công tác chỉ đạo. Làm tốt công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, nhất là đội ngũ GV, sẽ quyết định mọi hoạt động của nhà trường, đáp ứng những yêu cầu của đổi mới giáo dục và thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông mới.

3.2.3.2. Nội dung của giải pháp

- Chú trọng bồi dưỡng cho đội ngũ GV, để đảm bảo năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhiệm vụ hiện nay và thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

- Nâng cao năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho HS. 

- Triển khai mạnh mẽ công tác bồi dưỡng, đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp giáo dục HS dân tộc.

3.2.3.3. Tổ chức thực hiện

Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV là vấn đề rất quan trọng, cần được quan tâm trong quản lý, chỉ đạo công tác giảng dạy của các đơn vị trường học. Muốn củng cố uy tín của mình, nhà trường phải có đội ngũ GV vững vàng, giàu năng lực. Công tác bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ GV ở các trường phổ thông nói chung, thường thông qua con đường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn. Thực tế cho thấy, đội ngũ GV các trường PTDTNT ít được tập huấn, cập nhận kiến thức. Một bộ phận đội ngũ GV còn hạn chế năng lực chuyên môn, thiếu động lực cầu tiến hoặc còn tư tưởng ỷ lại không tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề. Đứng trước yêu cầu của việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, cần phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV ở những nội dung quan trọng sau:

Một là: Chú trọng bồi dưỡng cho đội ngũ GV, để đảm bảo năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhiệm vụ hiện nay và thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới trong những năm tới, như: Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học môn học; thiết kế bài học, bài kiểm tra đánh giá sát đối tượng và theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực của HS, đạt chuẩn đầu ra theo yêu cầu; năng lực sử dụng thiết bị dạy học…

Hai là: Nâng cao năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho HS. 

Đối với mỗi GV, quan trọng nhất là năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức. HS có nắm vững và vận dụng được những kiến thức, các kỹ năng phổ thông hay không phụ thuộc trực tiếp vào năng lực giảng dạy của GV. Do vậy, bản thân mỗi GV chắc chắn phải nắm vững kiến thức, kỹ năng về môn học được phân công dạy; biết lập các loại kế hoạch dạy học; biết sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học; biết vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học hợp lý theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển kỹ năng cho HS. 

Một trong những điểm mới của các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là việc tích hợp liên môn để giúp HS giảm tải. Vì vậy khi thực hiện sách giáo khoa phổ thông mới đòi hỏi GV phải có năng lực hiểu sâu và rộng mọi lĩnh vực, phải huy động tối đa nguồn tri thức xã hội của bản thân, vận dụng vào trong bài giảng mới có thể trở thành người “khai sáng” cho HS, đáp ứng yêu cầu của chương trình mới.

Để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho HS đạt kết quả cao các trường PTDTNT cần lưu ý:

- Chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn được lập một cách chi tiết, cụ thể về các nội dung. Tích cực tham mưu với Sở GD&ĐT trong việc cử GV tham gia bồi dưỡng thường xuyên, định kì theo hình thức tập trung, tại chức…; cần có chính sách hỗ trợ cho nhà giáo được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, học vấn, trình độ chính trị.

- Mỗi GV ngoài chương trình bồi dưỡng chung, cần có kế hoạch tự bồi dưỡng nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ. Trong quá trình dạy học thì việc tự bồi dưỡng là điều kiện tốt nhất để nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tương xứng với vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Mỗi người GV trong quá trình giảng dạy sẽ biết rõ nhất mình có những ưu thế gì, còn những hạn chế gì; biết điểm mạnh và yếu của bản thân; biết chất lượng giảng dạy của mình đến đâu từ đó sẽ có cách tự bồi dưỡng để hoàn thiện mình. Tự bồi dưỡng là con đường tích lũy kiến thức, gọt sắc tư duy, là sự trăn trở, thử nghiệm để tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người học. Trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay việc tự đào tạo, bồi dưỡng có rất nhiều thuận lợi.

Do vậy, các trường PTDTNT cần lưu ý đến những biện pháp khuyến khích, động viên, tăng cường tuyên truyền vận động nhằm nêu cao tinh thần và hiệu quả của công tác tự học, tự bồi dưỡng (tự đào tạo), để phát triển năng lực, trong bản thân mỗi cán bộ, GV. Có rất nhiều tấm gương về dạy giỏi; có rất nhiều cách làm hay, sáng tạo mà thầy cô ở nơi này, nơi khác đã áp dụng và mang lại kết quả đáng ghi nhận; có những chương trình ý nghĩa như “Thầy cô chúng ta đã thay đổi” để thầy cô có thể tham gia, có thể học hỏi… để tự hoàn thiện mình.

Ba là: Triển khai mạnh mẽ công tác bồi dưỡng, đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp giáo dục HS dân tộc.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, các trường PTDTNT cần quan tâm thực hiện tốt hơn những vấn đề sau:

- Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, đổi mới phương pháp dạy học cho đội ngũ GV phải được thực hiện thường xuyên hoặc định kỳ trong từng năm học. Bám sát các văn bản hướng dẫn về đổi mới dạy học để vận dụng hiệu quả vào thực tiễn đơn vị.

- Yêu cầu mỗi một GV phải nắm bắt được cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học như: Dạy học lấy HS làm trung tâm, phát huy được năng lực vận dụng và phẩm chất của HS với việc: Đổi mới không gian lớp học; vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học; phát huy sự tự quản, tự tin, chủ động, mạnh dạn của HS trong học tập, thảo luận, trao đổi, trình bày ý kiến; sử dụng hiệu quả các kĩ thuật dạy học theo từng đơn vị kiến thức…

Để thực hiện được các yêu cầu đó, các trường cần chỉ đạo các tổ chuyên môn triển khai các chuyên đề dạy học theo hướng nghiên cứu bài học. Chỉ đạo GV áp dụng thường xuyên nội dung của chuyên đề đó vào giảng dạy hàng ngày. Yêu cầu thực hiện đồng bộ trong tất cả các bộ môn để HS quen dần với phương pháp học tập mới từ đó giúp các em chủ động, mạnh dạn hơn trong học tập.

- Chỉ đạo các tổ chuyên môn triển khai hiệu quả các chuyên đề dạy học sát với điều kiện thực tiễn của đơn vị như: Phương pháp dạy lớp ghép; giải pháp nâng cao chất lượng HS yếu; Tăng cường tiếng Việt cho HS dân tộc; lựa chọn những hình thức phù hợp để giải nghĩa một số từ khó mà HS chưa hiểu…; sử dụng linh hoạt các hình thức dạy học đối với HS dân tộc…. Sau mỗi chuyên đề, trường cần tổ chức rút kinh nghiệm ngay để GV nắm bắt, vận dụng hiệu quả hơn vào công tác giảng dạy của mình.

- Tăng cường thêm các loại sách báo, tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học, phổ biến những văn bản, hình thức, kĩ thuật dạy học mới để GV tham khảo, nắm bắt, áp dụng vào công việc. Mỗi buổi họp hội đồng, sinh hoạt chuyên môn, nhà trường nên đưa ra một vấn đề về đổi mới dạy học để kiểm tra nhận thức của đội ngũ đồng thời tạo môi trường thảo luận và đi đến thống nhất về phương pháp.

3.2.4. Đẩy mạnh công tác giáo dục HS có hoàn cảnh khó khăn, HS gặp khó khăn trong học tập, HS có năng khiếu trong trường PTDTNT

3.2.4.1. Mục đích của giải pháp

Trong thực tế ở mỗi trường phổ thông nói chung, các trường PTDTNT ở Cà Mau hiện nay, với số lượng HS khá đông, phần lớn các em ở nội trú với những biểu hiện đa dạng về hoàn cảnh sống và khả năng nhận thức. Bên cạnh những HS học vừa học giỏi lại chăm chỉ (ngoan, đạo đức tốt), HS có năng khiếu… là những HS giỏi, HS tiên tiến, nhưng chưa ngoan (kiêu căng, ích kỷ), đây là những HS có khó khăn trong rèn luyện. Bên cạnh đó, cũng có những em được coi là chăm ngoan nhưng học yếu kém (Đó là những em có khó khăn trong học tập), và tất nhiên cũng có những em học yếu kém lại không ngoan (có khó khăn, yếu kém cả trong học tập và rèn luyện). Những HS học yếu kém thường hay vi phạm nội quy học tập, không có động cơ học tập mạnh mẽ, thiếu trung thực trong học tập dẫn đến có những biểu hiện yếu kém về đạo đức. Những HS yếu kém về đạo đức, đặc biệt là những HS sống thiếu ý chí, niềm tin thì hiếm khi là HS khá, giỏi mà thường rơi vào những HS yếu, kém.

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do đó, nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục HS có hoàn cảnh khó khăn, HS gặp khó khăn trong học tập, HS có năng khiếu trong trường PTDTNT, nhằm mục đích góp phần giúp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường đáp ứng với yêu cầu của xã hội, góp phần “nâng cao dân trí - đào tạo nhân lực - bồi dưỡng nhân tài” cho địa phương và đất nước.

3.2.4.2. Nội dung của giải pháp

Có rất nhiều nguyên nhân từ phía gia đình, xã hội và từ chính cả bản thân mỗi HS dẫn đến hiện tượng “khó khăn trong học tập và rèn luyện đạo đức”. Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, vấn đề quản lý, tăng cường giáo dục, giúp đỡ để những HS này có điều kiện phát triển nhân cách tốt, hài hòa trong nhận thức và hành vi là hết sức cần thiết, nhưng lại là vấn đề khá nan giải, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Công việc này đã và đang trở thành một thức thách lớn không chỉ riêng ngành giáo dục mà là toàn xã hội. Tuy vậy, nhiệm vụ chính vẫn là của mỗi nhà trường, mỗi thầy cô giáo, để thực hiện tốt nhiệm vụ này nhà trường, thầy cô giáo phải tận hiểu các đối tượng HS cả về tâm sinh lý lẫn các biểu hiện trong cuộc sống. Từ đó tìm giải pháp giáo dục phù hợp tích cực tác động một cách thường xuyên.

Đã qua, công tác giáo dục, bồi dưỡng HS có năng khiếu, giúp đỡ HS